.
Nhớ Sài Gòn
1 ... 18, 19, 20, 21, 22 - bottom


Oh, mọi người dzui quá hén! :D

Thanks anh langvan.

389466 top -
Hi chi Phương60,

Mấy nay chị du lịch đâu mà vắng nhà lâu quá? pà kon đang chờ cập nhật hầm Thủ Thiêm nối đôi bờ sông Saigon kìa. Noel này chắc mấy em nhỏ bên Thủ Thiêm có nhiều quà vì Santa Clause chỉ chui hầm là đến.

393428 top -

Tạm biệt phà Thủ Thiêm sau hơn 100 năm đưa khách


“Ngày đi trăm hoa hẹn hò
Ngày về vắng bóng con đò Thủ Thiêm”


Câu ca dao xưa tưởng chừng như đã “ứng” với phà Thủ Thiêm khi mới đây, ngày 21 tháng 11, đường hầm Thủ Thiêm qua sông Sài Gòn khai trương sau 6 năm thi công với sự giúp đỡ kỹ thuật của các chuyên gia Nhật Bản, với tổng vốn đầu tư 672 triệu đô la, trong đó 65% là nguồn vốn ODA - Nhật Bản.

ImagePhà Thủ Thiêm nay vắng khách qua sông và đến ngày 31 tháng 12, 2011 sẽ chính thức ngừng hoạt động. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Thời điểm cáo chung của bến phà Thủ Thiêm đã ‘điểm’.

Theo chân những người hiếu kỳ, chúng tôi xuống hầm vượt từ phía cầu Calmette. Ðang xớ rớ ngay phía đầu vào hầm vượt, chưa kịp hưởng cái cảm giác “lâng lâng” của một kẻ sắp được đi xuống “đáy” sông, bất chợt chúng tôi giật mình nghe tiếng nạt nộ của nhân viên coi đường hầm với một bác lớn tuổi phía trước: “Tắt đèn xi-nhan ngay, giam xe luôn bây giờ!”

Bị nạt nộ, bác lớn tuổi vội dừng xe, đẩy ngược trở ra, miệng lúng búng thanh minh: “Lộn đường!”

“Lộn đường!”...

Ði vào hầm vượt sông Sài Gòn thông thoáng, hiện đại nhưng lòng chúng tôi không vui. Chuyên gia Nhật Bản có thể dạy người Việt kỹ thuật xây hầm ngầm vượt sông nhưng họ không thể dạy đám “đầy tớ nhân dân” cách cư xử cho phải phép.

Luật nào cho phép nhân viên coi đường hầm quyền nạt nộ, đòi giam xe người khác? Trong khi hầm ngầm vượt sông mới qua hai ngày sử dụng, những quy định “cấm” còn chưa thực sự được phổ biến tới người dân, có chăng chỉ là một ít tờ rơi được phát cho những người dân qua hầm vượt trong ngày đầu.

ImageÐường vào hầm Thủ Thiêm bên phía đường Calmette, quận 4. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Thông xe hầm vượt Thủ Thiêm đã hoàn thành con đường mang tên Ðại lộ Ðông-Tây dài 22 km, điểm khởi đầu từ phía Bình Chánh giao với quốc lộ 1A và nút cuối ở quận 2 - đoạn giao với xa lộ Hà Nội.

Ðây là con đường vành đai kết nối các tỉnh miền Tây Nam bộ với các tỉnh miền Ðông mà không phải đi xuyên qua tâm thành phố, rút ngắn thời gian và tránh bị kẹt xe trong nội ô Sài Gòn.

Ðại lộ Ðông-Tây kết nối khu “tam giác vàng-kinh tế” Sài Gòn-Biên Hòa (Ðồng Nai)-Bà Rịa, Vũng Tàu, thuận lợi cho giao thông đường bộ ra Bắc ra Trung và ngược lại.

Ðồng thời cùng với đại lộ mới, hầm vượt Thủ Thiêm không chỉ kết nối Thủ Thiêm với quận 1, với chỉ 3 phút xe Honda qua hầm vượt mà còn mở ra khu đô thị mới Thủ Thiêm - quận 2 trở thành quận trung tâm mới với quy hoạch thành khu trung tâm thương mại, tài chánh, văn phòng với khu quảng trường trung tâm rộng 13 héc-ta, với những tòa cao ốc cao từ 10 tới 40 tầng, khu công viên dọc theo bờ sông...

Khu đô thị mới Thủ Thiêm được kỳ vọng như Phố Ðông của Thượng Hải.

Thủ Thiêm cách trung tâm quận 1, Sài Gòn chỉ có... một chuyến đò ngang thôi, vậy mà cho tới năm 1997 Thủ Thiêm vẫn được coi là “vùng sâu, vùng xa” của Sài Gòn.

Những ngày thông hầm vượt Thủ Thiêm này, bên cạnh niềm vui, niềm hiếu kỳ của những người dân bên phía Sài Gòn và nơi khác tới, chúng tôi qua sông, đi dọc theo bến đò cũ thấy cảnh sắc buồn buồn, trầm trầm.

ImageTrung tâm Sài Gòn nhìn từ phía bờ sông Sài Gòn quận 2. (Hình: Văn Lang/Người Việt)

Có lẽ có cảm giác vậy là vì dọc theo con đường Lương Ðịnh Của (trước kia mang tên Nguyễn Tường Tam) chẳng những vắng bóng người mà hai bên đường nhà cửa hầu như tháo dỡ hết, cỏ hoang mọc đầy và lau sậy hắt hiu... Ba phường tại đây là Thủ Thiêm, phường An Lợi Ðông và phường An Khánh đều đã được giải tỏa trắng.

Xuống phía bến phà, thấy vắng quá chúng tôi nghi ngại không biết bến phà những ngày này có còn hoạt động? Thời may, thấy một nhân viên bến phà còn đứng đó, hỏi thăm mới biết phà vẫn còn chạy, nhưng rồi người nhân viên lớn tuổi này cũng buông tiếng thở dài, cho biết thêm: “Có lẽ cũng sắp phải ngưng chạy rồi, có hầm rồi mấy ai muốn đi phà nữa đâu?!”

Ðầu bến phà phía Thủ Thiêm có một cái chợ “chồm hổm” nhỏ, sáng hôm ấy lèo tèo những người bán rau, bán cá... Mới 10 giờ sáng mà đã như chợ chiều vì vắng khách qua sông. Gương mặt ai cũng buồn, từ nhân viên bến phà cho tới những người bán rau, chẳng bù cho phía hầm vượt cách đó mấy đoạn đường đang ồn ào xe cộ, huyên náo tiếng người. Lòng tự nhiên thấy nao nao, chúng tôi không đành lòng đưa máy lên bấm lại những hình ảnh cuối của một buổi “chợ tàn”.

Qua sông, chuyến phà nhỏ chỉ lèo tèo ít người và xe Honda, tuyệt nhiên vắng bóng những chiếc xe hơi. Mặt những người đi phà cũng buồn buồn sao đó, có lẽ họ là những cư dân cố cựu nơi đây, những người không muốn qua hầm vượt cho nhanh mà lại muốn đi phà như muốn níu kéo lại chút thời gian cho những lần cuối, lần cuối...

Những ngày này người bên bến Thủ Thiêm hay nhắc tới một người đàn bà lớn tuổi, nguyên là chủ một tiệm điện trong khu vực di dời, không còn mấy ai tới mua bóng đèn nữa. Ngày ngày, người đàn bà này xách máy đi chụp hình, cố gắng ghi lại những hình ảnh của Thủ Thiêm vì biết rằng mai này những hình ảnh của Thủ Thiêm một thời sẽ không còn nữa, vĩnh viễn ra đi cùng ký ức của người lớn tuổi.

Những người già, như người đàn ông chạy xe Honda ôm cuối cùng cũng phải dời bến ra đi vì không còn mấy ai đi bộ qua phà cho cuốc xe cuối ngày...

Giải tỏa, cải cách kinh tế-môi trường, nếu như không đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho những cư dân đã bao đời khẩn hoang, giữ đất thì tất cả mọi “lý lẽ” sẽ đều trở nên vô nghĩa.

Theo thông báo của ngành chức năng thì vào đêm “trừ tịch” Dương lịch 31 tháng 12 năm 2011 sẽ chấm dứt hoạt động của bến phà Thủ Thiêm. Như vậy kể từ ngày đầu năm 2012 sẽ không ai còn nhìn thấy những con phà đưa khách sang sông tại bến Thủ Thiêm nữa.

Thời gian qua mau, “mới đó thôi”, năm 1911 bến đò Thủ Thiêm chính thức có tên trên bản đồ Sài Gòn do người Pháp ấn hành, dù trước đó bến đò đã có từ lâu. Tới năm 1930 đò máy xuất hiện lần đầu, đầu thập niên 60 những chiếc phà lớn hơn do hãng tàu Caric bên đây sông Sài Gòn đóng bắt đầu đưa khách qua sông... Hơn một trăm năm bến đò Thủ Thiêm chỉ nghỉ có... vài ngày. Rồi đây không biết mấy ai còn nhớ tới những câu ca dao xưa đầy kiêu hãnh:

“Bắp non nướng với lửa lò
Ðố ai ve được con đò Thủ Thiêm?!”



Văn Lang/Người Việt

393536 top -



420048 top -

Tiếng lóng Sài Gòn
Lê Văn Sâm


Một thời, một nơi chốn nào đó, trong đời sống ngôn ngữ dân gian lại nảy sinh ra một số tiếng lóng, một số thành ngữ, một câu hát nhại theo câu hát chính phẩm, hầu hết là để châm biếm, tạo nên nụ cười, hay có khi là để răn đe, tìm sự hoàn thiện trong cuộc sống, chúng chỉ sống một thời rồi tự biến mất, nhường chỗ cho đoạn đời "tiếng lóng" khác đến thay thế. Do đó, việc ghi chúng lại để đọc vui chơi hay phục vụ nghiên cứu văn học dân gian, chỉ có giá trị, khi ghi rõ định vị địa lý và thời gian.

Image
Tỷ như Sài Gòn vào thập niên 60, thịnh hành tiếng lóng "sức mấy" để thay nói bất lực hay chuyện không thể. Phổ biến đến nỗi, một nhạc sĩ đã chọn làm đề tài cho một bài hát đường phố: "Sức mấy mà buồn, buồn chi bỏ đi Tám".

Những câu chuyện thuộc loại tiếng lóng đó xuất hiện vào thời buổi Sài Gòn thời chiến, quê hương chiến tranh buồn phiền; "sức mấy" đã trở thành bút hiệu của một chuyên mục phiếm luận trên báo, sau đó một kỹ thuật gia sản xuất còi ô-tô đã chế ra một điệu còi ôtô, bấm còi là kêu vang trên phố một dòng nhạc còi ô-tô 10 nốt "tính tính tè tè, tè ti tè ti ti té", làm cho đường phố càng náo loạn hơn.

Image
Trước đó cũng từ bài ca Diễm xưa của Trịnh Công Sơn mà sinh ra tiếng lóng "xưa rồi Diễm ơi", mỗi khi có ai lặp lại một đòi hỏi nào đó, mà người nghe không muốn nghe thêm nữa.

Thời các vũ trường mới du nhập Sài Gòn như Mỹ Phụng, Baccara, Tháp Ngà, thì dân chơi gọi Tài-pán tức người điều phối nhóm vũ nữ, bằng tiếng lóng "Cai gà", gọi cảnh sát là "mã tà", vì police (cảnh sát) hay mang cái dùi cui, tiếng Tây là matraque, đọc trại thành "mã tà". Cũng từ thời thuộc địa, tiếng Tây chế ra tiếng lóng âm Việt rất nhiều như: "gác-dang" tức thuê người làm bảo vệ; tiếng Pháp gardien đọc trại ra thành gác-dang. Cũng như nói "de cái đít" tức lùi xe arriere; tiền cho thêm người phục vụ tiếng Pháp: pour-bois âm bồi gọi "tiền boa", sau này chế ra là "tiền bo".

Cũng thời Pháp thuộc, Sài Gòn có nhiều cách nói mà đến nay không ai biết nguyên do. Tỷ như gọi sở bưu điện là nhà dây thép, mua tem dán bao thư gọi là "con cò", còn nếu gọi "ông cò" là chỉ cảnh sát trưởng mấy quận ở thành phố, gọi "thầy cò" tức là các ông chữa morasse các tòa báo do chữ correcteur, nhưng nói "cò mồi" là tay môi giới chạy việc, "ăn tiền cò" thì cũng giống như "tiền bo", nhưng chữ này chỉ dùng cho dịch vụ môi giới.

Thời kinh tế phát triển, đi xe ô-tô gọi là đi "xế hộp", đi xe ngựa gọi là đi "ô-tô hí", đến thời xe máy nổ ầm ào, đi xe đạp gọi là "xe điếc", đi nghỉ mát Vũng Tàu gọi là "đi Cấp", đi khiêu vũ gọi là "đi bum", đi tán tỉnh chị em gọi là đi "chim gái", đi ngắm chị em trên phố gọi là "đi nghễ", gọi chỉ vàng là "khoẻn", gọi quần là "quởn", gọi bộ quần áo mới là "đồ día-vía". Ði chơi bài tứ sắc các bà gọi là "đi xòe", đi đánh chắn gọi là "múa quạt", đi chơi bài mạt chược các ông gọi là "đi thoa", đi uống bia gọi "đi nhậu", đi hớt tóc gọi đi "húi cua". Có một cụm tiếng lóng từ Huế khoảng 1920 - 1950 du nhập Sài Gòn, đó là "đi đầu dầu", tức các chàng trai ăn diện "đi nghễ" với đầu trần không mũ nón, để cái mái tóc chải dầu brillantine láng coóng, dù nắng chảy mỡ. Tuyệt vời gọi là "hết sẩy", quê mùa chậm chạp gọi là "âm lịch", hách dịch tự cao gọi là "chảnh".

Image
Tiền bạc gọi là "địa", có thời trong giới bụi đời thường kháo câu "khứa lão đa địa" có nghĩa ông khách già đó lắm tiền, không giữ lời hứa gọi là "xù", "xù tình", tức cặp bồ rồi tự bỏ ngang. Làm tiền ai gọi là "bắt địa", ăn cắp là "chôm chỉa", tương tự như "nhám tay" hay "cầm nhầm" những thứ không phải của mình.

Ghé qua làng sân khấu cải lương hát bội, người Sài Gòn gọi là làng "hia mão", có một số tiếng lóng người ngoài làng có khi nghe không hiểu. Tỷ như gọi "kép chầu", có nghĩa là đào kép đó tuy cũng tài sắc nhưng vì một lý do nào đó không được phân vai diễn gánh hát, đêm đêm họ cũng xách vali trang phục phấn son đến ngồi café cóc trước rạp hay túc trực bên cánh gà, để đợi, ngộ nhỡ có đào kép chính nào trục trặc không đến rạp được, thì kép chầu thay thế vào ngay. "Kép chầu" phải thuần thục rất nhiều tuồng để đau đâu chữa đó.

Ðào chính chuyên đóng vai sầu thảm gọi là "đào thương", kép chính chuyên đóng vai hung tàn gọi là "kép độc". Có một cụm tiếng lóng xuất phát từ hai nơi, một là cải lương rạp hát, hai là quanh các tòa soạn báo chí, đó là "café à la... ghi" tức uống café thiếu ghi sổ... Vào làng báo mà tiếng lóng người Sài Gòn xưa gọi "nhật trình". Nếu thiếu tin lấy một tin cũ nhưng chưa đăng báo để đăng lấp chỗ trống, gọi là "tin kho tiêu", các loại tin vớ vẩn dăm dòng từ quê ra tỉnh gọi là "tin chó cán xe", tin quan trọng chạy tít lớn gọi là "tin vơ-đét" - vedette, nhặt từ tài liệu dài ra thành một bài gọn gọi là "luộc bài", chắp nhiều thông số khác nguồn ra một bài gọi là "xào bài", truyện tình cảm dấm dớ gọi là "tiểu thuyết 3 xu", các tạp chí bình dân xoi mói đời tư gọi là "báo lá cải". Làng nhật trình kỵ nhất là loan tin thất thiệt, tiếng lóng gọi là "tin phịa", nhưng trong "tin phịa" còn có hai mảng chấp nhận được đó là loan tin thăm dò có chủ đích, tiếng lóng gọi là "tin ballons" tức thả quả bóng thăm dò, hay tin thi đua nói dối chỉ được xuất hiện vào đầu tháng tư, gọi là "tin Cá tháng Tư".

Có đến bảy tiếng lóng để thay cho từ chết. Ðó là "tịch", "hai năm mươi", "mặc chemise gỗ", "đi ô-tô bươn", "về chầu diêm chúa", "đi buôn trái cây" hay "vào nhị tỳ", "nhị tỳ" thay cho nghĩa địa và "số dách" thay cho số một... đều ảnh hưởng từ ngôn ngữ minh họa theo người Hoa nhập cư.

Thời điểm truyện và phim kiếm hiệp của Kim Dung nói chung là chuyện Tầu thịnh hành, người Sài Gòn đã chế ra nhiều tiếng lóng, như ai dài dòng gọi là "vòng vo Tam Quốc", ai nói chuyện phi hiện thực gọi là "chuyện Tề Thiên", tính nóng nảy gọi là "Trương Phi". Một số tên nhân vật điển hình của Kim Dung được dùng để chỉ tính cách của một người nào đó. Tỷ như gọi ai là "Nhạc Bất Quần" tức ám chỉ người ngụy quân tử, đạo đức giả, gọi là "Ðoàn Chỉnh Thuần" tức ám chỉ đàn ông đa tình có nhiều vợ bé... Sài Gòn là đất của dân nhập cư tứ xứ, nơi tha hương văn hóa bốn phương, nên ngôn ngữ càng thêm phong phú, trong đó tiếng lóng cũng "ăn theo" mà ra đời. Thời Mỹ đến thì một tiếng "OK Salem", mà các trẻ bụi đời vừa chạy vừa la để xin ông lính Mỹ điếu thuốc. Thời gọi súng là "sén" hay "chó lửa", dân chơi miệt vườn gọi "công tử Bạc Liêu" còn hiểu được, Sài Gòn xuất hiện cụm từ "dân chơi cầu ba cẳng" thì thật không biết do đâu? Có lẽ cầu ba cẳng có tên Pallicao, lêu nghêu 3 cẳng cao như dáng vẻ cowboy trong các phim bắn súng, nên mới gọi "dân chơi cầu ba cẳng"? Ðó cũng là lúc các tiếng lóng như "dân xà bát", "anh chị bự", "main jouer" - tay chơi - ra đời, chạy xe đua gọi là "anh hùng xa lộ", bị bắt gọi là "tó", vào tù gọi là "xộ khám". Bỏ học gọi là "cúp cua", bỏ sở làm đi chơi gọi là "thợ lặn", thi hỏng gọi là "bảng gót". Cũng do scandal chàng nhạc sĩ nổi tiếng kia dẫn em dâu là ca sĩ K.Ng. qua Nhà Bè ăn chè, để ngoại tình trong túp lều cỏ bị bắt, từ đó "đi ăn chè" trở thành tiếng lóng về hành vi ngoại tình trốn ra ngoại ô.

Cũng có một số tiếng lóng do nói lái mà ra như "chà đồ nhôm" tức "chôm đồ nhà", "chai hia" tức chia hai chai bia bên bàn nhậu, nó cùng họ với "cưa đôi". Tiếng lóng thời sự loại này có "tô ba lây đi xô xích le", tức "Tây ba lô đi xe xích lô". Trong tiếng lóng còn chất chứa ân tình. Họa sĩ chuyên vẽ tranh sơn mài đề tài lá hoa sen xuất thân xứ Ca Trù hay than "buồn như chấu cắn", hay có người than phiền vì câu né tránh trách nhiệm với hai tiếng "lu bu" để thất hứa, nay còn có người nhấn thêm "lu xu bu", nại lý do không rõ ràng để trốn việc.

Ðể tạm kết thúc phần dẫn này, tôi muốn nhắc một số âm sắc Bắc Hà. Những âm sắc theo chân người Hà Nội vào Nam rồi trở thành tài sản chung của người Việt. Bắt quả tang thành "quả tó", gọi chiếc xe Honda là "con rim", gọi tờ giấy 100 USD là "vé", đi ăn cơm bình dân gọi là "cơm bụi", xuống phố dạo chơi gọi là "đi bát phố", gọi người lẩm cẩm là "dở hơi"...


451748 top -

Tuổi thơ


Nhớ lại những ngày thời niên thiếu quá. Tôi nhớ năm 1969 coi 1 phim giá 2 đồng. Những món ăn ngày xưa nhìn không vệ sinh, nhưng bảo đảm 100% không có hóa chất và ngon "hết xẫy".

Sài Gòn 1971 - Chiếu phim dạo cho trẻ em: Một chiếc xe chiếu phim như trên, đại loại chiếu những đoạn phim câm trắng đen "Sạc-Lô", hay phim hoạt họa chuột Micky dài chừng vài phút. Thông thường ông "chủ rạp" bắt khán giả nhí phải ngồi chờ như trong hình cho đủ khách mới chiếu. Ở mỗi ống dòm có 1 cái cửa sắt, sau khi trả tiền, ông ta sẽ kéo 1 sợi dây từ chỗ ông ta đứng để kéo cái cửa lên thì mới thấy được cái màn ảnh ở trong hộp. Với khán giả nhí hồi đó xe chiếu phim này là 1 kỳ thú.
Image

Xem xi-nê xong thì chạy ra mua 1 con khô mực cán mỏng chấm với tương ớt…
Image

Hay 1 dĩa phá lấu vỉa hè…
Image

Xong rồi chạy ra đầu hẽm làm 1 ly xá xị hiệu con nai hay 1 ly rau má lấy sức…

Image

455631 top -

Bánh Mì "Tàu Ngầm" Sài Gòn Nức Tiếng Thế Giới
TVN


Không lâu sau khi những con tàu đầu tiên chở bột mì từ "mẫu quốc" Pháp ghé bến Bình Đông, thì người dân Sài Gòn biết đến thứ bánh mì que (baguette) mà người Mỹ còn gọi tiếng lóng là tàu ngầm...

Tàu ngầm đang rất nóng trong dòng thời sự biển Đông. Bánh mì Sài Gòn cũng nức tiếng khắp nơi trong dòng thời sự thế giới.

Tờ Guardian, rồi tờ National Geographic, đã bình chọn bánh mì Sài Gòn vào hàng top trong những loại thức ăn đường phố ngon nhất. Chỉ cần gõ hai chữ "banh mi" là có thể tìm thấy trang web của tờ "The Guardian" này. Bảng bình chọn là do hãng Lonely Planet thực hiện.

Thuở ban đầu nhập cư, nó trở thành "kẻ Việt gốc Pháp", đến bây giờ thế giới chỉ biết đến bánh mì Sài Gòn. Còn tổ tông "French baguette sandwich" (bánh mì que Pháp) lại chẳng mấy tiếng tăm trên đất cờ hoa này.

Có lẽ xứ sở của thức ăn nhanh, nhất là loại thức ăn đường phố, là một yếu tố để giúp cho bánh mì Sài Gòn lấy được "thẻ xanh" nhanh chóng trên đất Mỹ.

Tự điển Anh - Mỹ cũng vội đưa từ "banh mi" vào, sau khi, từ Việt Nam, bánh mì Sài Gòn đã sang định cư ở Mỹ. Wikipedia cũng có mục từ "banh mi".

Khách du lịch đến Việt Nam, nhất là dân du lịch bụi, quen dần với hình ảnh đâu đâu cũng có một xe bánh mì nhỏ gọn.

Xe bánh mì truyền thống thường bao giờ cũng có chiều ngang chừng tám tấc đến một thước, rộng chừng năm - sáu tấc. Nửa trên ba phía là kiếng, trưng nào bánh, nào thịt, nào gia vị để nhận vào ổ bánh. Nửa dưới đóng kín thường có một bếp than.

Bánh lúc nào cũng nóng. Bánh nhận đủ sắc màu ẩm thực quốc tế bên trong. Xíu mại, thịt quay, pâté, xá xíu, lòng heo, lòng bò khìa, phô mai, thịt ba rọi, cá mòi "ba cô gái" của Thái...

Nhiều xe bánh mì trông đơn sơ vậy, nhưng nổi tiếng cả vài chục năm, ngay một góc đường, hoặc trước một căn nhà.

Gần đây, lại có thêm những xe bánh mì ổ gầy và lùn tẹt, vừa nhang nhác người đẹp Triệu Phi Yến thời xưa bên Tàu, lại vừa hao hao cô người mẫu ốm nhách Kate Moss bây giờ, chỉ vừa chỗ để quết pâté. Trên xe luôn luôn có ghi địa chỉ online banhmique.com

Đi đã nhiều xứ, tôi chỉ thấy những xe bán bánh mì này là độc bản của Sài Gòn, thảng hoặc bên Pnom Penh, có vài xe. Ở Thái Lan thì hoàn toàn không có.

ImageBánh mì Sài Gòn ở TP HCM. Ảnh: Phan Quang

Chợt đến khi chuỗi bánh mì Tous Les Jours của Hàn Quốc ra đời, với loại bánh que y hệt Sài Gòn, tôi mới nghĩ ở đâu ra. Hàn Quốc không trực tiếp gì đến văn minh Tây, sao Tous Les Jours bên Seoul có bánh mì que. Rồi mấy năm nay sang tìm tương lai ở Sài Gòn?

Vậy là đâm nghi ngờ chắc mấy anh lính củ sâm qua Miền Nam hồi trước 1975, phát hiện được món bánh mì rất Sài Gòn này, một thứ fastfood ra đời sớm hơn cả fastfood Mỹ, bèn bắt chước chăng? Xin hãy cứ tồn nghi như thế cho nó cao trào chủ nghĩa dân tộc.

Bánh mì Sài Gòn phục vụ đủ tầng lớp, giai cấp. Nhiều sinh viên, học trò có bữa meo quá, chỉ mua một ổ bánh mì chan nước xíu mại. Thế là đủ năng lượng cho một buổi sáng.

Thời buổi lạm phát, tôi từng chứng kiến một ông đã ngà ngà say chận xe bánh mì di động rao bằng máy: "Bánh mì Sài Gòn thơm ngon, hai ngàn một ổ." Ông khách say mua một ổ, chàng trai bán bánh mì tính ba ngàn. Thế là xảy ra xô xát, (chửi thề) tại sao rao hai ngàn mà bán ba ngàn? Dạ em chưa có tiền thay cuộn băng...

Nhưng mở băng rao bán bánh mì là văn minh của miệt ngoài. Bên những quận nghèo ở Sài Gòn như quận 4, quận 8, vẫn còn những xe đạp bán bánh mì rao "live", chớ không rao băng, rao nhép như những ca sĩ dzỏm trong các showbiz.

Chừng năm giờ sáng mỗi ngày, đã nghe giọng rao thật ấm của một anh chàng bán rong: "Vừa mới ra lò đây. Ăn nhanh là còn ăn chậm là hết nghen".

Trễ hơn một chút: "Chuyến này là chuyến chót nghen".

Rồi đến tiếng rao già nua, hơi đã mòn mỏi theo tháng năm, hoà với âm thanh cọc cạch từ chiếc xe đạp cũng già nua như chính người bán: "Bánh mì nóng đây".

Rồi tiếng rao nhọn nữ kim của chị chạy xe gắn máy: "Bánh mì nóng giòn!"

ImageBánh mì Sài Gòn ở Tokyo, do mấy chàng từ quê hương Kebab cùng mấy cô gái xứ Hoa Anh Đào làm để phục vụ khách tham quan lễ hội "Tuần lễ Việt Nam ở Nhật Bản" cuối năm 2008. Ảnh: Nguyễn Á Phi

Cách đây cả chục năm, bánh mì Như Lan Chợ Cũ - trên đường Hàm Nghi - nổi lên và đẻ ra cái sáng chế nhái bánh của bọn các hãng thức ăn nhanh hamburger Mỹ: bánh mì con cóc.

Ổ bánh mì thay vì que, thì trở thành tròn quay, lại to, mỗi lần cắn miếng bánh thì ruột xì ra tứ phương, đổ vãi tùm lum. Đúng là quái gở của sự "phá chấp" mà thiếu trình độ thâm hiểu về tiện nghi. Cũng may là giờ đây bánh mì con cóc đã tuyệt diệt.

Khổ thay, bọn trẻ bị phương tiện truyền thông làm cho ba cái thứ con cóc hamburger ám vào đầu. KFC đã đi vào ký ức sinh nhật của nhiều đứa trẻ. Bánh mì Sài Gòn đã không được những nhà bảo tồn đưa vào cuộc vận động như một thứ văn hoá cần lưu giữ.

Một ông bạn già mỗi lần ngồi nhậu ở quán Hai Cây Bàng bên quận 4, trước lò bánh mì Vân Đồn, thì cứ thương nhớ đến bánh mì lò than, củi. Đó là ăn một thức mà ngửi được mùi củi, nghe được tiếng củi nổ lép bép, rồi ngửi được mùi bột sống, mùi bánh chín từ lò bánh lan xa.

Ngày xưa, bọn trẻ nào cũng thích bị bệnh. Vì mỗi lần bệnh được hưởng tiêu chuẩn cao hơn. Ở nhà ba má tôi, bệnh là được ăn bánh mì chấm sữa đặc có đường - một loại sữa đang tiếp tục hại bọn trẻ nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vì sữa thì không đủ, mà đường thì quá. Nên miếng bánh mì đã len vào kí ức từ hồi thơ ấu.

Lớn lên, đi học, bánh mì nó theo chân mình suốt cả quảng đời học trò. Bọn học trò ngày ấy dùng từ "gặm", "thổi kèn" để định danh cho hành vi ăn bánh mì. Đó là món ăn vừa gọn, vừa nhanh, vừa ngon cỡ nào cũng có.

Sang thì bánh mì gà quay, heo quay, meo thì bánh mì chỉ chan nước xíu mại thôi. Nhất là ổ bánh mì giấu dưới gầm bàn học, thỉnh thoảng gặm một miếng, nó ngon cái ngon ăn vụng phải biết đến cỡ nào.

Hai năm nay, quán La Dorée trên đường Lý Tự Trọng gần ngã ba Lê Anh Xuân - Lý Tự Trọng, lại làm phong phú thêm nỗi nhớ Nga của những người một thời quen với văn minh của nơi từng được vinh danh là "thiên đường của.. bánh mì đen".

Thế đấy, bánh mì Sài Gòn là một tổng hoà của nhiều thứ. Gốc Tây, ruột Tây, Việt, Tàu, Thái. Hương bánh mì Sài Gòn nó còn quyến rũ đến độ ngày xưa dân miền Tây lên Sài Gòn mà không mua mấy ổ đem về cho sắp nhỏ thì xốn xang...

Rồi lò bánh, rồi tiếng rao, rồi người bán rong, rồi xe bánh mì - gọi là xe, nhưng không có bánh, hoặc chỉ có mấy cái bánh nhỏ cho tiện di dời, mỗi khi thấy bóng thanh tra giao thông, hoặc công an đường phố.

Và cũng quên nói thêm, Hà Nội tuy không có những xe bánh mì như Sài Gòn, nhưng có một tiệm bánh Hà Nội ở đường Nguyễn Thiện Thuật, Sài Gòn bự chảng, coi mòi cũng phát đạt.

Có bánh mì Hà Nội không ta?


460702 top -

Quán Givral ở Sài Gòn nay đã khác
Nguyễn Ðạt/Người Việt


Quán Givral có mặt tại Sài Gòn từ năm 1950, là một trong những quán điển hình của thành phố được gọi là Hòn Ngọc Viễn Ðông một thời. Quán Givral tọa lạc cùng một phía trên đường Tự Do (nay là Ðồng Khởi) với quán La Pagode và quán Brodard; cả 3 quán này đều là nhà hàng nổi tiếng của Sài Gòn.

ImageQuán Givral hiện nay. (Hình:Nguyễn Ðạt/Người Việt)

Ngay sau 30 Tháng Tư, 1975, không còn quán La Pagode nữa; quán Brodard mới ngưng hoạt động gần một năm qua; và quán Givral cũng không còn hoạt động từ khi khu tứ giác Eden bị phá bỏ cách đây hai năm.

Khoảng một, hai tháng qua, khu tứ giác Eden bị phá bỏ để xây dựng mới, đã hoàn tất và đi vào hoạt động, trong đó có quán Givral.

Toàn thể khu tứ giác này, nằm giữa 4 con đường Ðồng Khởi-Lê Thánh Tôn-Nguyễn Huệ-Lê Lợi, mặc nhiên không còn gọi là khu tứ giác Eden nữa; đồng thời xóa sạch dấu vết Passages Eden (Hành Lang Eden) của Sài Gòn trước đây. Khu tứ giác mới này là một trong những công trình xây dựng-kinh doanh địa ốc của tập đoàn Vincom, được xem là tập đoàn có thế lực vào bậc nhất ở Việt Nam hiện nay.

Khu vực do tập đoàn Vincom kinh doanh này có giá đất là 8 ngàn USD/m2. Quán Givral vẫn đặt tại địa điểm cũ của khu tứ giác Eden, ở góc đường Ðồng Khởi-Lê Lợi. Mái xây hình vòm cung xinh đẹp, độc nhất vô nhị ở Sài Gòn trước đây; nay được thay thế bằng vật liệu nhẹ như một thứ nhựa tổng hợp. Nhìn vào quán Givral bây giờ, chỉ thấy đây là một nơi chốn xa hoa, vương giả; không còn là quán Givral xinh đẹp mà giản dị, và mang vẻ đón chào thân mật đầm ấm như trước nữa.

ImageNhà hàng-khách sạn Continental, đối diện với quán Givral. (Hình:Nguyễn Ðạt/Người Việt)

Chúng tôi còn nhớ rõ rệt cảm tưởng thân mật khi vào quán Givral trước đây; đặc biệt trước 30 Tháng Tư, đa số khách vào quán Givral thường xuyên thuộc giới báo chí trong và ngoài nước.

Giới văn nghệ thì ngồi quán La Pagode, ở đầu kia (góc đường Tự Do-Lê Thánh Tôn) của khu tứ giác Eden. Quán Givral lúc đó, chỗ ngồi điểm tâm và uống cà phê nhìn ra đường Tự Do, qua lớp kính; cửa hàng bánh trái của Givral ở phía đại lộ Lê Lợi. Bàn ghế đơn giản, sắp xếp thuận tiện cho khách thưởng thức cà phê, trò chuyện cùng bằng hữu.

Quán Givral hoạt động trở lại; tuy nhiên chúng tôi có cảm giác rõ rệt đây là quán Givral khác, không phải quán Givral trước đây. Bàn ghế kiểu dáng cầu kỳ, kênh kiệu, tạo thế ngồi xa cách. Nhìn vào quán Givral hiện nay, cảm tưởng đây là nơi dành riêng cho những kẻ lắm tiền nhiều bạc; ngồi uống cà phê để mưu tính làm sao có được nhiều tiền lắm bạc hơn!

Khu tứ giác hiện nay khác hẳn khu tứ giác Eden. Một tòa nhà đồ sộ cao tầng, nguy nga tráng lệ, kinh doanh ăn uống và các loại mặt hàng cao cấp, xa xỉ thời trang; đồng thời xóa bỏ hẳn những lối hành lang. Bất cứ ai là dân Sài Gòn, hẳn đều tiếc nuối những lối hành lang trước đây, với trung tâm điểm là rạp chiếu phim Eden. Khu tứ giác hiện nay giống như cái túi kín bưng, đi lại dong dạo cũng chỉ trong cái túi ấy mà thôi.

Khu tứ giác Eden trước đây có hành lang Eden, đi dong dạo - trước gọi là “bát phố” - thật lý tưởng, với nhiều lối vào hành lang ở tứ phía. Nhiều bạn của chúng tôi cùng nói lên ý nghĩ: Ngay trung tâm thành phố lớn là Sài Gòn, có một khu tứ giác Eden với những lối hành lang và các cửa hàng thiết kế đơn giản bình dị, là một bất ngờ lý thú.

Nhớ tới Passages Eden thuở trước, chúng tôi còn nhớ như mới hôm qua, cửa hàng mang tên Bookshop của một Ấn kiều: Không cuốn sách vừa xuất bản nào tại Hoa Kỳ, dạng paperback giá rẻ, lại không có bày trong Bookshop. Muốn mua sách ngoại văn dạng coverback đắt tiền hơn, thì có nhà sách rộng lớn ngay trong khu tứ giác Eden, cửa mở ra đường Tự Do: Nhà sách Albert Portail - tên Việt là nhà sách Xuân Thu; khách hàng có thể đặt mua sách ngoại văn phát hành ở bản xứ, theo đường tàu thủy hay đường hàng không.

Chúng tôi đã nhìn ngắm khắp các tầng kinh doanh của khu tứ giác hiện nay, thấy toàn là sản phẩm hàng hóa của nền văn minh hiện đại; và hoàn toàn vật chất, thiếu hẳn cái chất của tinh thần.

Quán Givral hoạt động trở lại, cũng không khác nó chẳng còn hoạt động nữa; quán ấy, bây giờ không dành cho chúng tôi nữa. Nhìn sang phía bên kia đường Ðồng Khởi, chúng tôi lại tiếc nuối một nơi uống cà phê thú vị: Nhà hàng - khách sạn Continental. Ít lâu sau 30 Tháng Tư, cái thềm cao, thoáng đãng của khách sạn Continental cổ kính và sang trọng bị sửa đổi; khoảng trống ở mặt tiền đã bị che chắn bằng khung cửa kính, khách ngồi uống cà phê không thấy thoải mái như trước. Thảng hoặc, khi các bàn trong quán đã chật khách, nhà hàng mới mang vài bộ bàn ghế gọn nhẹ bày trên hè đường, phía ngoài khách sạn.

Continental hôm nay hoàn toàn mang tính thực dụng, chủ yếu tổ chức tiệc tùng, đám cưới có nhiều lợi nhuận. Còn đâu gian bày những tác phẩm hội họa của họa sĩ Thái Tuấn, mang tên Dolce Vita, như thuở trước? Còn đâu những văn nhân, ký giả, ngồi bên ly rượu, trên thềm cao của nhà hàng - khách sạn Continental, để ngó suốt con đường Tự Do trước mặt, con đường chạy thẳng tới bến Bạch Ðằng...


463325 top -

Sài Gòn và tôi
N.C.M


Kính tặng Thầy Lê Văn Quang, thầy dạy môn Sử Địa thời Trung Học Đệ Nhất Cấp.

Image
Bất cứ ai đã ghé một lần thì luôn nhớ Sài Gòn, ai đã "sống" ở Sài Gòn khi ra đi đều mang theo Sài gòn trong tim, "sao dzậy hén", vì Sài Gòn rất là... Sài Gòn...

Ngay khi đặt chân lên miền đất ngập nắng ấm này, cảm nhận đầu tiên là giọng nói của người Sài Gòn: ngọt, mềm mại, ấm và dịu dàng, còn hỏi tại sao có được những "tố chất" ấy tôi xin thua, bạn đọc có thể tìm câu trả lời ở những người viết "tầm cỡ", những nhà "Nam Bộ học" như các ông Sơn Nam, Bình Nguyên Lộc, Vương Hồng Sển...

Khi còn là cậu học trò ở làng quê nghèo, Sài Gòn là nơi mà tôi mơ được đặt chân đến dù một lần cho... biết, trong trí tưởng khi nghe danh "hòn ngọc Viễn Đông", thủ đô nước Việt Nam Cộng Hòa, Sài Thành hoa lệ. Nhưng điều làm tôi xôn xao mơ ước nhất là khi nghe bản nhạc Sài Gòn của nhạc sĩ Y Vân: "Dừng chân trên bến khi chiều nắng chưa phai, ngựa xe thấp thoáng muôn tà áo tung bay... Phố xá nơi đây đón chân tôi đến chung vui ... Sài Gòn đẹp lắm... Sài Gòn ơi... Sài Gòn ơi...".

Lần đầu tiên tôi đã "có" Sài Gòn như vậy, một chiều nắng mùa hè, nắng chưa phai và nóng hừng hực, một dòng xe cộ nườm nượp, cũng là lần đầu tôi thấy xe xích lô đạp, xích lô máy, những chiếc "tắc-xi" với 2 màu vàng và xanh... Khi chiếc xe hành khách tên Mai Tiến lăn bánh rời Hàng Xanh bon bon trên đường Pétrus Ký, tôi căng mắt để nhìn Sài Gòn.

Sau buổi chiều biết Sài Gòn ấy, nhờ lòng tốt của người thầy học cũ tôi được trọ học ở nhà thầy thuộc một giáo xứ vùng ngoại ô Sài Gòn.

Image
Sài Gòn có hàng trăm con đường, người ta hay nhắc tới những con đường khu trung tâm như: Lê Lợi, Tự Do, Lê Thánh Tôn, Phạm Ngũ Lão… Những con đường "đi" vào văn học được nhắc trong nhạc, thơ, tiểu thuyết như đường Nguyễn Du, Duy Tân, Lê Lợi... Có khung cảnh thơ mộng giữa chốn phồn hoa, những con đường có tán me che mát quanh năm, lá me rụng rơi trên tóc những cô gái miền Nam mà giọng nói êm như gió thoảng, ngữ điệu "ngọt" và dịu dàng làm chết lòng con trai tứ xứ, bây giờ nữ sinh cũng mặc áo dài nhưng tôi thấy mất đi hay nói đúng hơn là "giảm chất thơ" trong tà áo dài ,có lẽ do ngoại cảnh chi phối trong cái nhìn của tôi chăng, một thành phố nay với hơn tám triệu con người, hầu hết dùng xe gắn máy mà lại ưa chuộng xe "phân khối lớn", dáng xe thể thao cho hợp với thời đại, cứ tưởng tượng thì áo dài đâu có hợp với những Honda@, Dylan, dịu dàng cứ bị gọt đẽo bởi thời @.

Image
Mà bây giờ tóc ngang vai cũng khó tìm, con người phải vật lộn trong đời sống "công nghiệp hóa", tất bật và căng thẳng, người ta vẫn làm đẹp, yêu cái đẹp và để chăm sóc mái tóc của thời khắc "xô bồ" là phải hy sinh, gọn nhẹ, đội cái "nồi cơm điện" lên cho an toàn thì mái tóc dài ngắn ai thèm quan tâm, người ta bịt mặt như hiệp sĩ Zoro, thò 2 con mắt ai cũng dáng dấp "xì-tin", một va quẹt nhỏ là sừng sộ quát nạt nhau rất là "phi văn hóa", Sài Gòn của tôi xưa không thế, cũng kẹt xe, cũng bao xóm "kênh nước đen", nhưng trong đối xử nhau vẫn rất ấm tình người, dân Nam bộ hay cười xòa và dễ thông cảm, tha thứ và hay kết bạn trong những lúc "hoàn cảnh"...

Nhưng con đường của riêng tôi nó quá đỗi thân thuộc, dù tôi chỉ có vài năm ngắn ngủi được làm dân ngoại ô Sài Gòn, nó gói gọn nhiều kỷ niệm và tôi càng quý nó hơn vì nay khi được thăm lại, như một người bạn cố cựu sau bao thăng trầm trong cuộc sống vẫn còn thủy chung: đường đã không đổi tên... tôi đi từ giáo xứ Hà Nội (An Nhơn, Gò Vấp) con đường nhỏ tên Bắc Tiến, qua cái ngã tư hướng theo chùa Tiên Long, qua thành Quân Cụ, đến Thông Tây Hội rẽ trái ra Ngã Năm Chuồng Chó, đi dọc theo đường trước Tổng Y Viện Cộng Hòa gặp ngã ba Chú Ía, chạy thẳng một lèo đến ngã tư Phú Nhuận là bước vô con đường này, đi qua rạp ciné Văn Cầm, sắp tới cầu Kiệu khi qua khỏi chợ Phú Nhuận, rồi gặp ngã 3 Tân Định, cứ thẳng hướng là tới cuối đường... là trung tâm thủ đô... bạn đoán ra tên con đường này chưa?

Ngã Năm Gò Vấp là cuối tuyến xe buýt, băng qua đường lên xe "lam" về Xóm Mới, những năm Đệ Nhất tôi học chiều, khi có giờ học thêm về qua đây nghe ếch nhái kêu nhớ nhà lắm, năm đầu học trường Chân Phước Liêm Gò Vấp tôi đi xe đạp, khi đậu Tú Tài I ba tôi cho tiền mua một xe Velo Solex "mới bóc tem" loại 3800, mua trên đường Lê thánh Tôn. Nữ sinh Sài Gòn mặc áo dài đi xe Velo Solex trông dịu dàng và đẹp, công chức nữ hay dùng xe "mô-bi-lét", cho đến cuối năm 1967 xe Nhật ào ạt nhập vô, có loại xe tay ga cho nữ rất nhẹ và cũng thanh lịch là xe honda PC 50...

Người Sài Gòn hiền hòa, vui tính, dễ gần; một công chức, một quân nhân lương đủ "nuôi" gia đình, có lẽ vì vậy nên ít "hoàn cảnh" và ít "tiêu cực" ...

Nếu hỏi sẽ nhớ nhất cái gì khi xa Sài Gòn khó nói lắm vì Sài Gòn có nhiều "cái" rất dễ thương rất làm cho mình nhớ, nếu có chút "tâm hồn ăn uống" sẽ nhớ phở Quyền Phú Nhuận, rồi bò viên khu Tân Định, mê chè thì nhớ tiệm chè Hiển Khánh khu Đa-kao, hồi ấy tôi và anh bạn tập "mê" nhạc tiền chiến hay lên quán ông "râu kẽm" vùng Ông Tạ (khu Bảy Hiền) có giàn Akai và những băng nhạc tiền chiến nghe nao lòng, đặc biệt quán có bán lẻ tất cả các loại thuốc lá trứ danh của Ăng-Lê như ba số năm (555) hộp thiếc tròn loại không đầu lọc, vì khách đến quán thường là học sinh, sinh viên nghèo nhưng mang tâm hồn "nghệ sĩ" mà xét cho kỹ túi thường ít tiền.

... Tôi và bạn bè cũng hay ghé cà phê Thu Hương gần nhà thờ Tân Định, quán này lịch sự và chiều khách, không phân biệt "giai cấp", tôi cũng không bao giờ quên được quán Thăng Long (Xóm Mới) có món đá chanh "bí truyền", sau này có đi uống nước chanh đá bất cứ đâu tôi không bao giờ quên được ly đá chanh của quán này, thầy Quang hay đãi chúng tôi khi ông lãnh lương của hãng RMK-BRJ, môt tháng 2 kỳ lương nên tôi hay được thầy cho ghé quán này...

Tôi cũng nhớ món nghêu hấp ở đường Nguyễn Tri Phương mà người bạn hay "bao" tôi (anh bạn này cùng tên với tôi và đã ra đi từ tháng tư bảy lăm nếu có đọc được những dòng này chắc anh nhớ tôi vẫn "nợ" những bữa ăn nghêu ngày xưa), rồi những xe hoành thánh mì ở khu Tân Định ăn một tô chưa bao giờ đã thèm. Về ăn uống thời đi học vậy là "sang cả" rồi, vì học trò làm gì có tiền, làm gì dư giả, cho tới khi vào quân đội, mỗi lần có phép về Sài Gòn bao giờ tôi cũng tìm lại "quán cũ tình xưa", ăn, uống chỉ như cái cớ... còn ngồi tĩnh lặng lòng "hoài cổ" là nhiều... Tất nhiên tôi không dám tham lam để đụng tới đề tài "ẩm thực Sài Gòn", bởi nơi đây đã từng là thủ đô của Việt Nam tự do, kết tụ văn hóa ba "kỳ", ngay phở Bắc, mì Quảng, hủ tiếu Mỹ Tho người ta có thể viết thành một cuốn sách về món ngon ba miền rồi, tôi là cậu học trò chân quê mới bước lên thủ đô, chỉ có những "góc" nhìn nhỏ bé nhưng coi là của riêng mình, chỉ một chút trải lòng trong cái nhớ, trong "hoài niệm", chân bước lại vào phố xưa quá đỗi xô bồ, nhộn nhịp nhưng lòng thấy lạc lõng, trơ trọi... đã có một câu nói về con người "phố" thời @ tôi nghe mà lòng buồn khôn tả: Thạch Sanh thì ít, Lý Thông lại nhiều... có phải vì sự giàu có đi lên từ một nền kinh tế "ba rọi", có phải vì từ các cháu bé con khi tới lớp mẫu giáo đã được dạy làm "cờ đỏ", được dạy "phát biểu" và "giơ tay đối phó" với những đoàn thanh tra, nghĩa là được dạy NÓI DỐI khi bắt đầu HỌC NHÂN CÁCH... Xã hội rồi sẽ như thế nào khi có rừng tre được lớn lên từ những búp măng như thế. Chuyện nhân cách, sự tự trọng giữa thời buổi "đồng tiền là sức mạnh", nhân nghĩa bị coi là gàn, là dở hơi thậm chí còn bị coi là stupid... Và còn buồn hơn khi báo chí, thông tấn hỏi các "quan", được các quan trả lời thẳng thừng và trơ trẽn: anh chỉ cho tôi xem ở đâu không có tham nhũng, ở đâu không có tệ nạn, ôi làm lãnh đạo mà trả lời như thế, một cách trả lời để vẽ đường cho hươu chạy, thử hỏi THƯỢNG có BẤT CHÁNH hay không, lãnh đạo mà vô cảm trước tội ác với dân thì ai trị nhỉ?

Cũng có những hôm trời mưa dầm, những giờ nghỉ học "bất thường" vì thầy dạy một môn bị bệnh, tôi hay "vù" ra công viên Tao Đàn, ngồi ngắm mưa... nhớ nhà, mua vài điếu thuốc lá Pallmall lẻ và tập làm thi-sĩ...

Tôi cũng thường coi phim rạp Vĩnh Lợi, rạp này thường chiếu phim Pháp, Ý giá vé hợp với túi tiền học trò, còn Eden và Rex chỉ khi có những phim mới và hấp dẫn lắm mới dám xem vì giá vé rất cao, tôi cũng không quên rạp xi-nê Văn Cầm trên đường Võ Di Nguy Phú Nhuận, rạp Kinh Thành trên Tân Định, rạp Casino Đa-kao, các rạp này thuộc hạng bình dân hợp túi tiền học trò.

Sài Gòn có một thứ tôi luôn thèm và nhớ là "chợ" sách vỉa hè, khu dọc rạp xi-nê Vĩnh Lợi, vì ở khu trung tâm nên sách cũ mà hơi cao giá hơn chỗ khác, bù lại hầu như rất phong phú cho sự chọn lựa, chợ sách thứ hai mà tôi hay ghé là vỉa hè trước nhà thờ Tân Định trên con đường "chung thủy" của tôi: đường Hai Bà Trưng.

Nhà thơ Nguyên Sa có một câu thơ mà ai qua thời làm học trò cũng thuộc: “Nắng Sài Gòn anh đi mà chợt mát, bởi vì em mặc áo lụa Hà Đông"... Bây giờ người đẹp Sài gòn ít ai mặc áo dài, thì làm sao thấy cái dáng "áo lụa Hà Đông", dù cho có bao thăng trầm, bao cảnh bể dâu nhưng Sài gòn của thời xưa ấy vẫn nguyên vẹn trong tôi.

Image
Đi Tìm Lại Người Sài Gòn giữa Sài Thành hoa lệ:
Nghe qua câu này có vẻ tôi là tên "phân biệt chủng tộc" nhưng đáng buồn thay, những người Sài Gòn như "ẩn" đâu hết, trong khu trung tâm vắng họ nhiều, thay vào đó là sự hiện hữu của người "Sài gòn mới", âm nói nghe sắc lạnh dù đon đả chào mời, họ "nhầm" khi chào hỏi tôi bằng tiếng Anh, cũng may là tôi còn nói được vài câu tiếng Anh xã giao rồi "biến" cho lẹ vì sợ sẽ nghe "tiếng Đức" và sẽ bị "đốt phong long" vì không mua hàng, họ "nhầm" khi thấy tôi mặc bộ quần áo hoa ngụy trang, đội cái nón đi rừng hàng quân đội Mỹ chánh hiệu, lại còn đeo kính Rayban, chiếc máy ảnh Canon G7 đeo lủng lẳng trước ngực nên tưởng tôi là du khách Thái Lan, tôi cảm thấy buồn và tự nhiên nhớ câu thơ trong bài thơ Ông Đồ của nhà thơ Vũ Đình Liên:

“… NHỮNG NGƯỜI MUÔN NĂM CŨ
HỒN Ở ĐÂU BÂY GIỜ...”


Bây giờ đầu tháng tư, những người Sài Gòn sẽ rất nhớ khi họ không còn ở Sài gòn, nhớ cái nắng tháng tư, nhớ ly cà phê đá góc phố, nhớ tiếng rao quà trong canh khuya, trong sáng sớm, và sẽ không quên được tháng tư mà họ bỏ phố ra đi ...

Vẫn còn tiệm kem Bạch Đằng mà khi ngồi ở đây có thể nhìn ra hai đường phố, cũng còn những người bán thuốc lá cho du khách với nhiều hiệu thuốc cho khách Âu, Mỹ, Á... Những shop bán đồ lưu niệm về cuộc chiến Việt Nam mà người mua có thể mua cái bếp hành quân nấu bằng xăng, cái la bàn trên trực thăng, những viên đạn đại liên 50 được bàn tay khéo léo của người thợ thủ công làm thành cái quẹt, những cái quẹt Zippo trên thân khắc nhiều địa danh của quê hương nghèo khó mãi vì chiến tranh, cuộc chiến qua rồi nhưng những người tham chiến thuở ấy có bao nỗi niềm... dẫu biết phải quên đi... nhưng có qua rồi mới thấu... ngôn ngữ có khi bất lực trước những nỗi niềm này .

Mỗi người có một Sài Gòn riêng cho mình mà khó giải bày cho người khác, tôi cũng vậy, nhưng dù sao đi nữa tôi cũng rất yêu Sài Gòn.

Tháng Tư, năm hai ngàn mười


466102 top -
Posts của hungphitran đọc thích lắm.

466145 top -
Vẫn còn tiệm kem Bạch Đằng mà khi ngồi ở đây có thể nhìn ra hai đường phố, cũng còn những người bán thuốc lá cho du khách với nhiều hiệu thuốc cho khách Âu, Mỹ, Á... Những shop bán đồ lưu niệm về cuộc chiến Việt Nam mà người mua có thể mua cái bếp hành quân nấu bằng xăng, cái la bàn trên trực thăng, những viên đạn đại liên 50 được bàn tay khéo léo của người thợ thủ công làm thành cái quẹt, những cái quẹt Zippo trên thân khắc nhiều địa danh của quê hương nghèo khó mãi vì chiến tranh, cuộc chiến qua rồi nhưng những người tham chiến thuở ấy có bao nỗi niềm... dẫu biết phải quên đi... nhưng có qua rồi mới thấu... ngôn ngữ có khi bất lực trước những nỗi niềm này

Không thể nào quên chỗ này được.

466150 top -


Kỷ niệm buổi họp mặt Tân Niên-Mùng 7 Tết thật là vui và đầm ấm!

Thân chúc các anh chị một năm mới tràn đầy sức khoẻ và nhiều niềm vui...


:)

Image*taing-HuyHoang-quannguyen-hungphitran-thanhmy-Anh Hoàng-langvan-luongdao-nguoidochanh-Anh Chung-chitam.
*Lactantan-tinabuitran-bengiao-SauHai-Chị Châu-PhuongAnh-RubiDuy-thaoclassic.


Image*langvan-lekiet-SauHai-Anh Chung-HuyHoang-Lactantan-luongdao-quannguyen-nguoidochanh-thanhmy-taing-Anh Hoàng-hotheart.
*PhuongAnh-chitam-bengiao-thaoclassic-Chị Châu-RubiDuy.


Image

Image

Image

481303 top -
Thật là "Đầm ấm", đã lâu lắm rồi mới thấy có không khí này. Hy vọng năm mới lịch Visa sẽ chạy như "tên bắn" để ACE thể hiện hết mức tinh thần Tương thân tương ái giúp đỡ hết mọi người đi sau.
Cám ơn @chitam,

481325 top -

@chitam,

Hinh đẹp quá há , hihi

Ai cũng cười tươi như hoa hết.

bengiao rất vui khi lại được có dịp gặp gở với các anh chị em thân thương, sẽ nhớ mãi...

481505 top -

Hình đẹp quá!

481861 top -
Nhớ Sài Gòn
1 ... 18, 19, 20, 21, 22

Image
Image
Image
Image
Image
Image
Image
Image
Image
Image
Update
PayPal về email:
thuquy.vietditru@gmail.com


Chi phiếu gửi về:
Jimmy Ton
4369 46 St.
San Diego, CA 92115



Việt Nam chuyển tới:
Phạm Thị Tuyết Phượng
Số tài khoản: 4973099
ACB Châu Văn Liêm, TPHCM



Ý kiến về Quỹ VietDitru

*THÔNG TIN QUAN TRỌNG: Do tình hình dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, từ ngày 19/3, Đại Sứ Quán và Lãnh Sự Quán Hoa Kỳ sẽ ngừng phỏng vấn cấp xét thị thực. Toàn bộ lịch hẹn từ ngày 19/3 trở đi sẽ bị huỷ. Xem thông tin chi tiết

Image
Image